Viễn cảnh và thách thức với Việt Nam 2022

Việt Nam là một ngôi sao kinh tế năm 2020 vì đã kiểm soát được dịch bệnh Covid-19 trong khi duy trì tốc độ tăng trưởng kinh tế trong top cao nhất thế giới. Mặc dù GDP chỉ tăng 3%, bằng một nửa mức tăng thông thường 6-7% các năm trước nhưng hầu hết các nước khác còn đang phải đối mặt với mức tăng trưởng âm.



Tuy chính phủ Việt Nam tự tin rằng các biện pháp xét nghiệm, truy vết và cách ly sẽ tiếp tục kiểm soát được virus nhưng việc mua vaccine vẫn chậm trễ. Khi biến chủng Delta được chứng minh là có khả năng lây nhiễm cao hơn và không dễ kiểm soát, đã có một cuộc đua trong việc mua vaccine. Nỗ lực này trở nên quan trọng hơn sau khi biến chủng Omicron xuất hiện.

Kết quả là năm 2021 là một năm tồi tệ khi đóng cửa đã làm cho cuộc sống khó khăn và GDP giảm xuống chỉ còn tăng 2,6%. Việc tăng nguồn cung vaccine cuối cùng đã cho phép nhiều hoạt động bình thường hơn trong các tháng cuối năm 2021. GDP Việt Nam đã giảm 6% vào quý 3 trước khi tăng trở lại trong quý 4.

Thặng dư thương mại, một nguồn gây căng thẳng với Hoa Kỳ trong quá khứ, đã giảm một nửa trong năm 2021 xuống mức khiêm tốn 4 tỷ USD. Tỷ giá hối đoái danh nghĩa của Việt Nam đồng so với dollar Mỹ tăng nhẹ và dự trữ ngoại hối tăng lên, lạm phát ở mức dưới 2%.

Câu hỏi lớn hiện nay là liệu những diễn biến này có làm lu mờ danh tiếng khó khăn mới có được của Việt Nam - nhà cung cấp đáng tin cậy và có thể thay thế cho TQ với các nhà sản xuất xuất khẩu? Bất chấp các nhà máy đóng cửa, xuất khẩu đã tăng 19% trong năm 2021 với giá trị lên đến 336 tỷ USD – trong khi GDP năm 2020 chỉ là 271 tỷ USD và chỉ tăng nhẹ trong năm 2021.

Lượng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) không tăng hay giảm nhiều. Tốc độ bao phủ vaccine – khoảng 60% số người được tiêm đầy đủ ở thời điểm đầu năm 2022 – gợi ý rằng các nhà máy phải đóng cửa trong năm 2022 sẽ ít đi.

Nhưng sự thiếu hụt lao động có thể trở thành vấn đề khi công nhân lo sợ những đợt đóng cửa nhà máy khác và những hạn chế đi lại. Đã có những rắc rối trong các sự kiện tuyển dụng năm 2019 khi lực lượng lao động tăng chậm. Áp lực toàn cầu đối với giảm rủi ro và tăng khả năng đàn hồi trong chuỗi cung ứng cũng là những thách thức. Mặc dù động lực của những cam kết FDI trong quá khứ sẽ giữ cho tăng trưởng xuất khẩu ở mức cao năm 2022 nhưng câu hỏi là những năm sau đó thì sao.

Một tác dụng phụ trong sự tăng trưởng xuất khẩu nhanh của Việt Nam là sự tụt hậu trong giá trị gia tăng của khu vực nội địa trong hàng xuất khẩu. Nhiều phần việc chỉ đơn giản là lắp ráp chứ không phải là phát triển một mạng lưới công nghiệp cung ứng để giữ chân các doanh nghiệp FDI khi lương tăng lên và nguồn cung lao động khan hiếm. Sự tiến bộ trong lĩnh vực này đến từ các nhà cung cấp FDI theo chân các “công ty mẹ” của họ chứ không phải từ các công ty nội địa.

Dịch bệnh Covid-19 đã làm chậm bước tiến trong lĩnh vực này khi có ít doanh nghiệp mới mở cửa và nhiều công ty phải đóng cửa tạm thời. Nhiều hãng vẫn đang kinh doanh nhưng bị suy yếu tài chính và sẽ cần thời gian để tích luỹ nguồn lực nhằm nâng cấp máy móc, đào tạo và tiếp thị.

Mặt khác, các hãng trong nước đã tăng cường đầu tư thêm 7% về danh nghĩa trong khi chính phủ và các công ty FDI lại chứng kiến sự suy giảm. Đây là điều gây ngạc nhiên khi 1,2 % tăng trưởng thực tế trong hoạt động dịch vụ và 4% trong công nghiệp.

Triển vọng cho năm 2022 là tốt khi các nhà máy và lĩnh vực dịch vụ tiếp cận mức bình thường thì sẽ có một sự nhảy vọt trong sản lượng, nhiều như Trung Quốc đã có trong đầu năm 2021. Hầu hết các dự báo là tăng trưởng GDP thực tế sẽ khoảng 6 đến 7%. Du lịch sẽ bắt đầu phục hồi từ mức suy giảm hơn 95% so với năm 2019. Xuất khẩu sẽ tăng khoảng 15% và cân bằng thương mại sẽ duy trì ở mức dương. Lạm phát sẽ ở mức thấp và tiền đồng sẽ tiếp tục tăng nhẹ so với dollar Mỹ. Dự báo này giả định rằng việc đóng cửa biên giới của TQ sẽ được nới lỏng để cho phép dòng chảy thương mại diễn ra bình thường hơn so với 2021.

Mặc dù quan hệ kinh tế với Mỹ đã được cải thiện, việc trừng phạt các “nhà báo độc lập” và những bình luận online có thể tạo ra căng thẳng. Việc này có thể ảnh hưởng đến dòng chảy FDI tương lai và buộc Việt Nam phải đa dạng hoá thay vì phụ thuộc vào FDI lắp ráp đơn giản – một xu hướng gây ra bởi sự thiếu hụt lao động và mức lương tăng. Nó cũng có thể hạn chế dòng chảy vào của FDI công nghệ cao – một điều có thể cho phép Việt Nam chuyển đổi nền kinh tế thành “công nghiệp 4.0” và cải thiện năng suất.

Chất lượng FDI sẽ phải được quan tâm, bên cạnh các nỗ lực nhiều hơn để cải tiến giáo dục và đào tạo. Việc dựa vào các công ty nội địa lớn hơn và được kết nối tốt hơn có thể sẽ tăng lên.

Một vấn đề khác là kế hoạch mở rộng sản xuất điện. Nó đã thay đổi từ cách tiếp cận cân bằng với nhiều năng lượng tái tạo hơn sang phương pháp được ưa chuộng là dùng than đá. Các kế hoạch tăng cường đường truyền tải đã bị thu hẹp và điều này sẽ làm tổn hại đến các nguồn vốn FDI đầu tư vào năng lượng xanh.

GDP bình quân đầu người của Việt Nam tính theo sức mua tương đương đã vượt 11000 USD/ người/ năm vào năm 2021. Đây là mức tăng rất lớn so với năm 2000 nhưng vẫn khiến nước này nghèo hơn hầu hết các nền kinh tế lớn trong ASEAN. Việt Nam cũng phải đối mặt các vấn đề môi trường ở đồng bằng sông Cửu Long và các thành phố. Tiền lương tăng so với năng suất, áp lực tăng cường xuất khẩu và xếp hạng công nghệ giảm đối với người lao động đặt ra những thách thức trung hạn cho Việt Nam.

Theo Eastasiaforum


https://www.eastasiaforum.org/2022/02/11/prospects-and-challenges-for-vietnams-economy-in-2022/

Đăng nhận xét

Mới hơn Cũ hơn