22 April 2019

Lần đầu mất ưu thế pháo binh, VNCH đã binh bại như núi lở (510)

Thời kỳ chiến tranh Việt Nam, quân đội VNCH được Mỹ trang bị nhiều vũ khí hạng nặng cho nên có ưu thế hỏa lực mạnh hơn hẳn so với quân giải phóng. Chẳng hạn một sư đoàn quân giải phóng đến tận giai đoạn cuối chiến tranh mới có một trung đoàn pháo binh trong biên chế thì trong quân đội VNCH từ giữa thập niên 1960, mỗi trung đoàn đã có 1 tiểu đoàn pháo yểm trợ hỏa lực. Mặt khác, số lượng biên chế một tiểu đoàn pháo của quân giải phóng thường là 12 khẩu thì mỗi tiểu đoàn pháo của VNCH thường có 18 khẩu (mỗi tiểu đoàn có 3 pháo đội, mỗi pháo đội có 6 khẩu đội). 


Tuy nhiên, đến thời kỳ cuối cuộc chiến tranh, sau khi Mỹ đã ký Hiệp định Paris và rút hết quân về, khoảng cách về hỏa lực giữa VNCH với quân giải phóng dần rút ngắn và khi bước vào chiến cuộc xuân 1975 thì ưu thế dần dần nghiêng về phía quân giải phóng. Chương trình dưới đây sẽ phân tích chi tiết về sự thay đổi ưu thế hỏa lực đó. 



19 April 2019

Báo TQ: Nga quá thông minh, một vụ kinh doanh ăn hai lần, người Việt Nam bất hạnh

Gần đây tờ Toutiao của Trung Quốc có một bài bình luận xoay quanh việc Nga giới thiệu phiên bản nâng cấp của tàu Gepard 3.9. Trong đó họ cho rằng người Nga đã cố ý giấu bớt tùy chọn khi đàm phán đóng tàu Gepard cho Việt Nam để sau này xây dựng một phiên bản nâng cấp quay lại chào hàng. 

Đồ họa phiên bản nâng cấp tàu dự án 11661 từ thời kỳ trước. 

Bài báo viết: Là kỳ hạm của Hải quân Việt Nam, tàu hộ vệ Gepard 3.9 thuộc dự án 11661E do Nga chế tạo mặc dù nghe có vẻ uy phong lẫm liệt nhưng từ thời kỳ mới bắt đầu phục vụ đến nay, con tàu này vẫn chưa thoát khỏi tình huống lúng túng của hỏa lực yếu kém. Phạm vi hỏa lực của nó thậm chí còn không bằng tàu tên lửa 500 tấn mới phục vụ gần đây của Nga. 



Gần đây, Nga chính thức giới thiệu tại triển lãm LIMA 2019 ở Malaysia một phiên bản cải tiến mới nhất của tàu Gepard 3.9. Xem xét trong phạm vi toàn thế giới, ngoài Nga chỉ có Việt Nam trang bị loại tàu này cho nên có thể nói phương án cải tiến này là làm vì Việt Nam thì cũng không phải là nói quá. 

Xét ở hiện tại, 4 tàu Gepard 3.9 đang hoạt động trong Hải quân Việt Nam đều chỉ có thể xem là có công năng hữu hạn ở tàu tuần tra. Về mặt chống hạm, 8 quả tên lửa chống hạm cận âm Kh-35 tuy tầm bắn cũng khá nhưng uy lực và năng lực đột phá phòng không cơ bản là không mạnh. Về mặt chống ngầm, nhà chứa máy bay của tàu này cơ bản là một thứ trang trí, không thể hỗ trợ cho công việc tiếp tế và bảo trì trực thăng trên hạm. Về phương diện phòng không, chỉ có một hệ thống phòng không tầm gần Palma cho nên chỉ tự vệ cũng đã khó khăn... Tổng kết lại một câu thì nó cái gì cũng có thể làm nhưng cái gì cũng làm không đến nơi. 

Mô hình tàu Gepard nâng cấp tại triển lãm LIMA 2019. 

So sánh một chút, tại LIMA 2019 Nga ra mắt phiên bản nâng cấp Gepard 3.9 với rất nhiều chỗ mạnh hơn: Boong trước của tàu thay hệ thống Palma bằng hệ thống UKSK có thể dung nạp và bắn được một loạt tên lửa các loại. Đây là hệ thống tích hợp cho phép tàu có thể tấn công đối đất tầm xa, chống ngầm và đối hạm chỉ qua một cửa. Hai dàn phóng tên lửa Kh-35 được thay bằng những ống phóng hình chữ Y, đồng thời do ống phóng và tên lửa di chuyển lên phía trước cho nên mặt boong sau vẫn đủ đặt đặt một nhà chứa trực thăng hoàn chỉnh. Điều này có ý nghĩa là việc sử dụng trực thăng liên tục trên tàu có thể thành hiện thực. 

Theo giải thích của phía Nga, những cải tiến này không đòi hỏi phải kéo dài thân tàu cho nên nó rất khả thi. Điều này không nghi ngờ gì là rất đáng giá đối với Việt Nam. 

Điều chắc chắn là sau khi người Nga ra mắt phiên bản tàu cải tiến này, những tàu hộ vệ Gepard 3.9 trong tay Việt Nam hiện nay sẽ có thể trở thành những nền tảng phóng tên lửa hành trình trong phạm vi vài trăm km, do vậy ảnh hưởng tổng thể với năng lực của Việt Nam có thể nói là đủ biết nặng nhẹ thế nào. Nhưng Nga cũng sẽ đưa ra một mức giá xứng đáng, chịu được hay không còn phải xem Việt Nam thế nào. 


Nhưng đối với người Nga, gói nâng cấp mới ra mắt năm nay về cơ bản lại là một sự cắt xén bớt so với dự án 11661E nguyên bản. Trước khi cung cấp cho Việt Nam tàu dự án 11661E, Nga còn có 2 phiên bản tàu hộ vệ 11661 cơ sở khác đang được thi công chậm chạp. Trong đó có một tàu được trang bị các vũ khí thực nghiệm như ống phóng thẳng đứng UKSK. Sau đó nó được đổi tên thành tàu hộ vệ 11661K và đi vào phục vụ trong hạm đội Caspi. Điểm quan trọng nhất trong gói nâng cấp là tính năng phóng nhiều loại tên lửa hành trình các cỡ, khả năng này hoàn toàn khả thi trên các tàu Gepard của Việt Nam. 

Một tàu chiến Nga đang phóng tên lửa hành trình vào Syria. 

Nói cách khác, khi Việt Nam lựa chọn tàu 11661 làm cơ sở cho tàu hộ vệ hạng nhẹ của mình, hệ thống UKSK đáng lẽ phải là một điểm để thương lượng nhưng người Nga đã không đưa những tích hợp cao cấp này ra trước mắt phía Việt Nam mà lặng lẽ giấu nó đi để chuẩn bị cho một phương án nâng cấp tương lai. 

Đương nhiên trong trường hợp này, Việt Nam vẫn phải dựa vào Nga để nâng cấp các tàu Gepard 3.9 đến hoàn chỉnh nhưng người Việt Nam từ nay về sau liệu có dần dần giảm hứng thú với việc tiêu thụ các vũ khí Nga hay không thì rất khó nói trước. 

Nguồn: https://www.toutiao.com/a6680767257804538379/ 

Những phân tích và kết luận của bài báo này nghe cũng có lý. Tuy nhiên vấn đề tùy chọn cấu hình vũ khí tàu Gepard đóng cho Việt Nam được đàm phán như thế nào thì chúng ta cũng không biết rõ nên không ai dám chắc chắn là người Nga đã cố ý giấu tùy chọn hệ thống UKSK đi. Do vậy đây có lẽ cũng là một lập luận có tính chất võ đoán hoặc có ý muốn khích bác.



Tình báo Mỹ nghĩ điều gì đã xảy ra trong vụ Triều Tiên thử vũ khí mới

Mỹ không tin Triều Tiên đã phóng thành công một vũ khí mới được vận hành hoàn toàn sau khi Bình Nhưỡng tuyên bố họ đã thực hiện một cuộc “bắn thử vũ khí dẫn đường chiến thuật mới” vào ngày 17/4, theo một quan chức Mỹ quen thuộc với vấn đề. 


Các đánh giá ban đầu của tình báo Mỹ là Triều Tiên đã thử các bộ phận của vũ khí chống tăng hơn là toàn bộ một vũ khí mới. Đánh giá này dựa trên một đánh giá các thông tin thu được từ vệ tinh và máy bay mà qua đó không ghi nhận bất cứ dấu hiệu nào về một vụ phóng bất kỳ vũ khí chiến thuật tầm ngắn nào hay tên lửa đạn đạo. 



Truyền thông nhà nước Triều Tiên đưa tin rằng lãnh đạo Kim Jong Un đã thị sát và chỉ đạo vụ thử nghiệm. 

Mỹ tin rằng nếu Triều Tiên đã phóng một vũ khí chống tăng có đầy đủ chức năng thì các cảm biến của họ đã ghi nhận được một vài dấu hiệu nhưng điều đó đã không xảy ra. 

Dữ liệu cảm biến mà Mỹ có thể đánh giá cho thấy các bộ phận rời rạc này không tạo ra tiến bộ nào trong khả năng quân sự Triều Tiên. Mỹ tin bộ phận thử nghiệm này chủ yếu được thúc đẩy bởi quyết định của ông Kim nhằm gửi thông điệp đến Mỹ rằng ông vẫn có khả năng thử nghiệm mà không gây ra một khiêu khích lớn. 

Quyền Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Patrick Shanahan hôm qua mô tả đặc điểm vụ thử của Triều Tiên là một “thử nghiệm vũ khí dẫn đường chiến thuật mới”, đó “không phải là một tên lửa đạn đạo” và “không có thay đổi nào với hoạt động hay thế của chúng ta” xảy ra như hậu quả của vụ thử. 

Eric Brewer, cựu giám đốc bộ phận chống phổ biến vũ khí hạt nhân tại Hội đồng An ninh Quốc gia nói rằng vụ thử là “không đáng lo” và nó có khuynh hướng gây áp lực lên chính quyền Trump sau thất bại của hội nghị thượng đỉnh ở Hà Nội. 

Ông nói những vụ khiêu khích mức độ thấp này đã được dự kiến: “Tôi không nghĩ có lý do nào để đưa ra hay lên tiếng hoặc lên án vụ thử vũ khí này”. 

Vụ thử vũ khí mới ngày 17 diễn ra vài giờ trước khi Bộ Ngoại giao Triều Tiên đưa ra một lời quở trách với Ngoại trưởng Mỹ Mike Pompeo. 

Trong tuyên bố do Hãng thông tấn Trung ương Triều Tiên KCNA đưa ra, quan chức ngoại giao Kwon Jong Gun nói Pompeo đã “khinh suất đưa ra những bình luận và ngụy biện đủ kiểu chống lại chúng tôi hàng ngày”. 

Kwon nói ông Kim đã đưa ra “lập trường nguyên tắc” trong đàm phán giữa Bình Nhưỡng và Washington rất rõ trong bài phát biểu gần đây trước quốc hội nước này. Kwon nói: “Mọi người đã có được giải thích rõ ràng về bài phát biểu của ông, trong đó nói rằng Mỹ nên thay đổi cách trù tính và đưa ra các biện pháp đáp lại trước cuối năm nay”. 

Người phát ngôn ngoại giao Mỹ hôm qua nói “chúng tôi đã nhận được báo cáo về bình luận của Kwon” và rằng “Mỹ vẫn sẵn sàng tham gia với Triều Tiên trong một cuộc đàm phán xây dựng”. 

https://edition.cnn.com/2019/04/18/politics/us-north-korea-weapon-claim/index.html


Quân nhân Mỹ mỗi năm thu nhập bao nhiêu tiền? (509)


Là một nước giàu có và có chính sách lấy chiến tranh thúc đẩy sản xuất và tiêu thụ, nước Mỹ đã xây dựng những chế độ lương thưởng và đãi ngộ rất hậu hĩnh với quân đội nhằm thu hút những tinh hoa xã hội nhập ngũ. Theo luật pháp Mỹ, mức lương của quân nhân luôn cao hơn mức lương của công nhân viên chức cùng cấp. Một tân binh Mỹ cũng có thu nhập bình quân một năm bằng với thu nhập của một nhân viên chính quyền liên bang. 

18 April 2019

Nếu không dùng hạt nhân, thế giới có đánh bại được 5 nước HĐBA?

Hiện tại 5 nước thường trực Hội đồng Bảo an LHQ là Mỹ, Nga, Trung Quốc, Anh, Pháp. Về mặt sức mạnh quân sự, 5 nước này đều là những nước hàng đầu. Có một câu hỏi đặt ra là nếu không dùng đến vũ khí hạt nhân, các nước toàn cầu hợp lực lại thì có thể đánh bại được 5 nước thường trực HĐBA này không? 


Trước hết, chúng ta xem xét về lĩnh vực quân sự. 5 nước nói trên gần như là lũng đoạn công nghệ tên lửa tầm xa, công nghệ chế tạo máy bay chiến đấu thế hệ 4 và công nghệ vệ tinh nhân tạo. Khi Thế chiến II kết thúc, tuy nói rằng trình độ kỹ thuật quân sự đạt được bước tiến vượt bậc nhưng thực tế thì chỉ có 5 nước nói trên là tiến bộ nhanh nhất, hầu hết các nước còn lại đều dừng ở trình độ thời kỳ Thế chiến II. Một khi 5 nước kia phong tỏa việc xuất khẩu vũ khí ra ngoài, rất có thể vũ khí của đại bộ phận các nước còn lại trên thế giới đều sẽ quay trở lại lạc hậu. Xét đến cùng rất nhiều nước không có năng lực tự nghiên cứu phát triển vũ khí tiên tiến. 


Thứ hai là về kinh tế. Năm 2018, ngân sách quân sự của Mỹ là 622 tỷ USD, Trung Quốc 191,8 tỷ USD, Anh 23,8 tỷ USD, nga 48,4 tỷ, Pháp 44,3 tỷ. GDP của 5 nước vừa nói chiếm 48% GDP toàn cầu. Đồng thời 3 nước Trung, Mỹ, Nga còn là những nước sản xuất ngũ cốc hàng đầu thế giới, có thể nói cho dù đánh về kinh tế, chỉ cần 3 nước này cùng đánh thì thế giới đã không thể thắng chứ chưa nói đến có thêm Anh và Pháp. 


Cuối cùng, điều quan trọng nhất là công nghệ thông tin. Chiến tranh hiện tại vừa là chiến tranh hậu cần vừa là chiến tranh thông tin. Nhưng hiện tại hệ thống định vị toàn cầu, cơ bản đều nằm trong tay Trung, Mỹ, Nga và châu Âu. Có thể nói nếu cắt đứt những hệ thống dẫn đường này, máy bay và tên lửa của nước khác không khác gì phế liệu. Với con mắt đã bị bịt lại, nước khác cơ bản không có bất kỳ cơ hội nào để thắng ngũ cường. Thậm chỉ chỉ mình nước Mỹ cũng đủ khiến các nước nếm mùi. Trong chiến tranh vùng Vịnh, quân Mỹ dựa vào việc oanh tạc con mắt của đối phương mà trong hơn 1 tháng đã giành được thắng lợi. 



Do đó có thể thấy, các nước còn lại trên toàn cầu muốn đánh thắng ngũ cường cơ bản là không thể. Bất kể là về kinh tế hay là quân sự, cho đến công nghệ thông tin đều là các nước ngũ cường chiếm ưu thế áp đảo. 

https://www.toutiao.com/a6680759479450993165/ 

Bình luận: Điều giả định này chỉ nói cho vui còn thực tế, lịch sử chiến tranh đã chỉ ra rằng phần nhiều các cuộc chiến là do những nước lớn mạnh mâu thuẫn nhau rồi lôi kéo các nước nhỏ vào chỗ khói lửa chiến tranh. Các nước nhỏ và yếu rất khó để có thể tạo được một liên minh vững chắc chống nước lớn, bởi vì liên minh ấy sẽ rất dễ bị nước lớn phá vỡ bằng các thủ đoạn chính trị hoặc tài chính.

Báo Tàu: Tàu Gepard Việt đến TQ tính năng mạnh nhưng tồn tại hiểm họa

Đây là tiêu đề một bài viết trên tờ Toutiao của Trung Quốc ngày hôm nay nhân việc 2 tàu Gepard của Việt Nam lên đường sang Thanh Đảo dự duyệt binh hải quân quốc tế. 

Bài báo viết: "Theo truyền thông Việt Nam ngày 15/4 đưa tin, hai tàu hộ vệ Việt Nam là Trần Hưng Đạo và Đinh Tiên Hoàng ngày 14/4 đã rời cảng Cam Ranh hướng về Thanh Đảo để tham gia duyệt binh quốc tế kỷ niệm 70 năm thành lập Hải quân Trung Quốc. Đối với các nước nhận lời mời tham gia duyệt binh quốc tế, đại đa số chỉ phái 1 tàu chủ lực. Riêng nước Nga phái đến 4 tàu nhưng trong đó tàu chiến thực sự chỉ có một tàu hộ vệ dự án 22350 còn 3 tàu khác đều là tàu hỗ trợ. So sánh như vậy thì phía Việt Nam cho đi 2 tàu hộ vệ tàng hình mạnh nhất của mình có thể thấy Việt Nam coi trọng hoạt động lần này. 


Trong các hải quân tham dự cuộc duyệt binh hải quân lần này, Nga, Nhật và Ấn Độ đều đưa những tàu tối tân tinh nhuệ, Việt Nam cũng không ngoại lệ. Hai tàu Việt Nam cử đi đều là những tàu hộ vệ tàng hình Gepard 3.9 nhập khẩu từ Nga. Là một tàu hộ vệ hạng nhẹ có lượng giãn nước đầy tải 2000 tấn, Gepard 3.9 kế thừa truyền thống “vũ khí hạng nặng” của một quốc gia luôn luôn chiến đấu. 




Tàu hộ vệ Gepard trang bị đầy đủ các vũ khí đối không, đối hải và chống ngầm, đặc biệt có giá trị là nó có một bộ radar có cự ly giám sát ngoài đường chân trời cho nên nó không cần trực thăng giúp dẫn đường tên lửa vẫn có thể tấn công đối hải ngoài đường chân trời. Xét từ tầm bắn 130 km của tên lửa đối hạm Uran được trang bị trên tàu Gepard thì con tàu này đích thực có năng lực như vừa nói. Trong các loại trang bị của Hải quân Việt Nam, tàu hộ vệ tàng hình Gepard 3.9 không chỉ là mạnh nhất mà còn đóng vai trò là tàu chỉ huy, thậm chí là chủ lực tuyệt đối. 

Từ khi mua về 4 tàu Gepard, Hải quân Việt Nam nhiều lần giao cho loại tàu này nhiệm vụ đi thăm viếng nước ngoài để biểu dương sức mạnh trên biển của mình. Không thể không thừa nhận, trong hải quân 10 nước ASEAN, Gepard 3.9 thực sự có thể gọi là ở trình độ hàng đầu, Hải quân Việt Nam có đủ nguồn lực để phô trương. Nhưng mà chính đó lại là cái gọi là “ma quỷ ở tiểu tiết”, tàu hộ vệ tàng hình được xem là mạnh mẽ đó cũng không hoàn toàn phù hợp với thói quen sử dụng của người Việt. 

Sĩ quan Hải quân Việt Nam tren cabin tàu Gepard. 

Theo các bức ảnh do truyền thông chính thống Việt Nam công bố không khó để thấy, trong cabin tàu, nhân viên điều khiển tàu buộc phải ngẩng đầu lên mới có thể nhìn thấy được đường phía trước. Điều này rõ ràng không thể khiến cho người điều khiển cảm thấy dễ chịu. Tuy nhiên không thể nói là đây là do người Nga bố trí cửa sổ tàu quá cao mà ngược lại phải nói rằng nhân viên hải quân Việt Nam có chiều cao khá thấp. 




Theo thống kê năm 2015 của Tổ chức Y tế Thế giới, chiều cao trung bình của đàn ông Việt Nam là 1,65m, chiều cao trung bình của đàn ông Nga là 1,75m, khoảng cách là 10 cm. Từ góc độ chế tạo và sử dụng trang bị thì khi Việt Nam ký hợp đồng mua tàu từ Nga, đáng lẽ phải yêu cầu Nga điều chỉnh độ cao cửa sổ tàu để thích hợp điều kiện chiều cao binh sỹ. Nhưng hiện tại ta thấy Gepard 3.9 gần như không có sự điều chỉnh thích hợp. 

Binh sỹ Hải quân Nga. 

Ngoài radar hàng hải ra, an toàn hành trình của tàu gần như đều phụ thuộc vào người điều khiển tàu, cửa sổ cabin quá cao sẽ ảnh hưởng phạm vi quan sát dưới mắt và ngang mắt của nhân viên điều khiển. Khi đi giữa biển cả mênh mông, khuyết điểm này có thể không rõ ràng nhưng nếu ở trong khu vực cảng có mật độ tàu thuyền dày đặc hoặc các eo biển hẹp có nhiều bãi cạn thì nhược điểm về phạm vi quan sát có thể sẽ đưa lại rủi ro tai nạn. Điều này không nghi ngờ gì chính là một hiểm họa nghiêm trọng. 

Nói không khoa trương, tàu hộ vệ Gepard 3.9 của Việt Nam tuy tính năng lý thuyết rất mạnh nhưng chi tiết lại lộ ra thiếu sót khiến người ta lo lắng. Có lẽ trước khi phô trương sức chiến đấu với nước ngoài, quân đội Việt Nam cần tự hoàn thiện bản thân mới được. 




Nguồn: https://www.toutiao.com/a6681076059741356552/ 

Bình luận: xem ra việc Việt Nam cử hai tàu sang Trung Quốc đang ngày càng thu hút sự chú ý của cư dân mạng nước này. Lập luận cơ bản của bài viết trên đây, trên lý thuyết là đúng nhưng thực tế là nó lại chỉ dựa vào một bức ảnh, mà bức ảnh đó thì lại được chụp từ một góc hơi nghiêng. Từ đó đã dẫn đến những đánh giá chủ quan của tác giả bài viết. Không cần nói nhiều, chúng ta chỉ cần nhìn bức ảnh Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Kim Ngân đứng trên cabin của một tàu lớp Gepard dưới đây là đủ thấy những phân tích của bài viết trên đây là “tán dóc”.
 

Cảnh sát Quảng Tây bắt giao cho Việt Nam 1 ông trùm ma túy

10 giờ sáng ngày 16/4, Cảnh sát Quảng Tây Trung Quốc đã giao đối tượng bị truy nã vì tội buôn bán ma túy là Lương Văn Đồng cho cảnh sát Lạng Sơn Việt Nam tại km số 0 cửa khẩu Hữu Nghị. Đây là một hợp tác giữa hai nước trong cơ chế liên hợp chống tội phạm xuyên biên giới. 


Tháng 4/2018, phòng cảnh sát điều tra tội phạm ma túy công an Lạng Sơn thông qua kênh liên lạc phòng chống ma túy biên giới đã thông báo cho Tổng đội phòng chống ma túy công an Quảng Tây rằng hồi tháng 3/2014, trinh sát của họ phát hiện một vụ buôn bán ma túy xuyên quốc gia. Lương Văn Đồng là nghi can chủ yếu trong vụ này nhưng sau vụ việc hắn đã trốn qua biên giới sang Trung Quốc lẩn trốn. Sau đó, công an tỉnh Lạng Sơn đã phát lệnh truy nã đặc biệt với Lương Văn Đồng. Đồng thời họ cũng yêu cầu cảnh sát Quảng Tây giúp đỡ truy bắt đối tượng này và giao cho phía Việt Nam. 



Công an Quảng Tây rất chú ý vấn đề này, đã hợp tác chặt chẽ với phía Việt Nam, đồng thời tổ chức công an thành phố Sùng Tả, công an thành phố Bằng Tường và nhiều ban ngành liên quan khác của công an. Qua nghiên cứu nhiều tin tức và trường kỳ theo dõi mật phục, trưa ngày 11/1/2019, tại một xưởng gia công đồ gỗ ở trấn Thượng Thạch thành phố Bằng Tường, Lương Văn Đồng đã bị bắt. Qua thương lượng giữa cảnh sát Trung - Việt, 10 giờ ngày 16/4, Lương Văn Đồng được giao cho phía Việt Nam ở cửa khẩu Hữu Nghị. 


Từ năm 2019 trở đi, cơ quan chống ma túy Quảng Tây đã giúp cảnh sát Việt Nam bắt giữ và bàn giao 2 đối tượng có lệnh truy nã. Cảnh sát Lạng Sơn giúp cảnh sát Quảng Tây bắt giữ và bàn giao 1 nghi can buôn ma túy. Lực lượng chống ma túy Trung - Việt ở các khu vực biên giới đã hợp tác chặt chẽ, chấn áp có hiệu quả các thế lực buôn bán ma túy xuyên biên giới, thể hiện rõ thái độ kiên quyết và mong muốn chung trong phòng chống tội phạm ma túy. 

Nguồn: https://news.sina.com.cn/c/2019-04-17/doc-ihvhiewr6742160.shtml


Chậm mà chắc, Việt Nam nâng cấp các đảo ở Trường Sa (508)


Gần đây, trên website của tổ chức sáng kiến minh bạch hàng hải châu Á, viết tắt là AMTI có đăng một bài viết cập nhật các hoạt động của Việt Nam ở Trường Sa. Bài viết của họ có tên là "chậm mà chắc, Việt Nam nâng cấp Trường Sa". Mời quý vị theo dõi trong clip dưới đây để biết chi tiết các thông tin cập nhật về Trường Sa. 


Vứt bỏ lương thực để mang thêm đạn, lính TQ 1979 nhận bài học xương máu

Dưới đây là một bài viết trên tờ Toutiao kể về việc quân Trung Quốc khi bắt đầu tấn công Việt Nam tháng 2/1979 đã nghĩ ngon ăn vứt bỏ bớt lương thực để mang thêm đạn. Chúng tưởng dễ như lời huênh hoang của Đặng Tiểu Bình "Sáng ăn cơm Bắc Kinh, trưa ăn cơm Hà Nội, tối ăn cơm Sài Gòn". Do vậy chúng đã nhận được bài học đầu tiên về hậu cần trong chiến tranh. Sau đây là trích lược nội dung chính bài báo: 

Đội tiếp tế hậu cần của Trung Quốc trong chiến tranh Việt - Trung 1979.

"Đêm trước cuộc chiến tranh năm 1979, có những bộ đội tham chiến, trong lúc tiến hành các hoạt động chuẩn bị vật chất, đã rất coi trọng vũ khí đạn dược, trang bị khí tài nhưng đối với vấn đề cơm nước của bộ đội, tức là vấn đề bảo đảm ăn uống thì lại không mấy chú tâm. Họ cho rằng xét cho cùng thì ăn lương khô hay là ăn cơm nóng cũng không mấy quan trọng. Họ nghĩ rằng “đánh trận, cái gì mà ăn nóng với ăn lạnh, bộ đội có gì ăn nấy là được”. 



Dưới tinh thần chỉ đạo của tư tưởng này, trước khi phát động tiến công, rất nhiều chiến sĩ xuất phát từ yêu cầu trực tiếp của việc tiêu diệt đối phương nên phổ biến nghĩ rằng cần mang nhiều đạn dược. Có người đã vứt bớt khẩu phần lương khô 2 ngày, chỉ mang theo khẩu phần 1 ngày và bỏ thêm đạn vào túi lương khô. Ngay cả các dụng cụ làm bếp cũng bỏ ở trận địa xuất phát tiến công, lính anh nuôi toàn bộ đều cho đi vận tải đạn dược và tải thương binh. 

Kết quả là sau khi nổ súng mới phát hiện vấn đề ăn uống căn bản không đơn giản như tưởng tượng lúc trước chiến tranh. Lấy trung đoàn 489 sư đoàn 163 quân đoàn 55 làm ví dụ. Khi đó khí hậu ngột ngạt, trên núi không có nước. Trong lúc đang chiến đấu kịch liệt thể lực tiêu hao lớn, sĩ quan binh lính mất nước miệng khô họng khát, không thể nuốt nổi lương khô, không muốn ăn những đồ hộp thịt lợn nhiều dầu mỡ, mà cũng không thể được hậu phương cung cấp đồ ăn nóng. Vì thế, ngày 17/2, trừ bữa ăn sớm lúc 5 giờ sáng, bộ đội cơ bản không ăn gì. 

Sáng hôm sau lực lượng chủ lực trung đoàn rút khỏi chiến đấu, hậu phương mang tới gạo, thịt và rau, tiểu đội nuôi quân bắt đầu nấu cơm. Các chiến sĩ sau khi ăn no phổ biến phản ánh là “ăn cơm nóng canh nóng, ăn một bát thì sức lực lại hồi phục một phần”. 

Dân công tiếp tế của quân Trung Quốc trong chiến tranh 1979. 

Kinh nghiệm thực chiến chứng minh, chiến trường nằm tại bắc bộ Việt Nam với núi cao rừng rậm, tốc độ tiến công của bộ đội nhanh, thể lực hao phí nhiều, mồ hôi nhiều, lương không quá khô lại thêm thiếu nước, chỉ đơn thuần dựa vào lương khô là không thể bảo đảm nhu cầu tác chiến của bộ đội. 


Tổ chức bảo đảm ăn nóng, bảo đảm bộ đội ăn đầy đủ, ăn no mới có thể lực để tiến hành chiến đấu. Đây là một trong những điều kiện vật chất quan trọng để bảo đảm sức chiến đấu và giành chiến thắng của bộ đội, là mắt xích trọng yếu của công tác bảo đảm quân nhu thời chiến. 

Trong tác dụng cung cấp năng lượng cho cơ thể, bất kể là trên mặt dinh dưỡng hay khẩu cảm, lương khô đều không bằng cơm nóng, chỉ ưu điểm ở chỗ có thể ăn nhanh mà không thể dùng thường xuyên. Muốn bảo đảm thể lực hữu hiệu cho bộ đội, củng cố và phát huy sức chiến đấu thì vẫn phải dựa vào cơm canh nóng. Do đó có thể thấy trình độ bảo đảm hậu cần của quân đội Trung Quốc thời đó đã rất cao, có thể nhanh chóng cung cấp các loại rau và thịt, không để bộ đội ở mặt trận phải gặm lương khô."

Nguồn: https://www.toutiao.com/a6680339344915431947/

17 April 2019

Thượng nghị sĩ Mỹ trải lòng về di sản chiến tranh và quan hệ Việt - Mỹ

Dưới đây là một bài viết của thượng nghị sĩ Patrick Leahy về những vấn đề di sản chiến tranh và sự phát triển quan hệ Việt - Mỹ, Mõ Quốc Tế xin giới thiệu nguyên văn với quý vị: 

“Khi tôi trở thành thượng nghị sĩ của Vermont năm 1975, một trong những lá phiếu đầu tiên tôi bỏ là cho một bộ luật để ngăn chặn tài trợ cho chiến tranh ở Việt Nam. Luật đó đã được thông qua. 

Thượng nghị sỹ Patrick Leahy. 

Nhiều người trong chúng ta biết những người đã phục vụ trong cuộc chiến tranh này. Một số người đã thiệt mạng. Những người khác bị thương nghiêm trọng. Từ ngữ không thể mô tả tương xứng mức độ khốc liệt của cuộc chiến đó đối với người dân của cả hai nước. 40 năm sau, chúng ta vẫn vật lộn trong nước mình với những tàn dư của sự chia rẽ trong xã hội chúng ta do cuộc chiến ấy gây ra, cũng như nó đã làm với người dân Việt Nam. 



Sự tham gia của tôi vào hậu chiến Việt Nam bắt đầu năm 1989 khi cựu Tổng thống George H.W. Bush và tôi nói về sự cần thiết phải giảng hòa với Việt Nam - điều mà nhiều người Mỹ, gồm các cựu chiến binh, đang kêu gọi. 

Tổng thống Bush đã đồng ý sử dụng cái mà sau này gọi là Quỹ Nạn nhân Chiến tranh Leahy để cung cấp chân tay giả và xe lăn cho người Việt đã bị tàn tật vì mìn và các quả bom chưa phát nổ. Sự hỗ trợ kéo dài đến ngày nay đó đã giúp hàng ngàn người Việt lấy lại được khả năng di chuyển. 

Dĩ nhiên những người khác đã và đang làm việc trong vấn đề MIA (người Mỹ mất tích trong chiến tranh) thậm chí còn sớm hơn. Công việc đó giúp mang lại sự kết thúc cho hàng trăm gia đình Mỹ. Nó đã nhờ vào sự giúp đỡ của chính phủ Việt Nam, tại thời điểm mà Việt Nam đang vật lộn để khắc phục hậu quả chiến tranh. 

Trong nhiều năm Mỹ cũng giúp xác định và phá hủy hàng triệu quả mìn và các quả bom chưa phát nổ khác - những thứ vẫn tiếp tục gây thương tật hoặc tử vong cho những người Việt vô tội. May mắn thay, nhờ vào các nỗ lực đó, số lượng thương vong ngày nay đã giảm nhiều so với trước đây. Nhưng vẫn còn nhiều việc cần phải làm. 

Bom mìn còn sót lại sau chiến tranh vẫn đang gây ra nhiều thương vong cho người dân Việt Nam.

Những năm qua, tôi đã có nhiều cuộc nói chuyện với các quan chức Việt Nam, trước và sau khi quan hệ ngoại giao được tái thiết lập năm 1995. Bất kể chủ đề cuộc nói chuyện là gì, người Việt Nam luôn nhắc đến chất độc da cam và những tác hại của nó với người dân của họ. 

Đồng thời, các cựu binh Mỹ - những người đã bị nhiễm chất độc da cam và phải chịu ung thư cùng các chứng bệnh khác, cũng đang tìm kiếm giúp đỡ từ chính phủ của chúng ta. Năm 1991, Bộ Cựu chiến binh chấp nhận đòi hỏi của các cựu binh nhưng phải 15 năm sau chúng ta mới bắt đầu giải quyết vấn đề này ở Việt Nam. 

Chúng ta đã bắt đầu tại sân bay Đà Nẵng, một căn cứ quân sự cũ của Mỹ, nơi chất độc da cam với thành phần dioxin đã được dự trữ. Cơ quan Phát triển Quốc tế của Mỹ (USAID) xứng đáng với công trạng lớn lao vì đã thực hiện và hoàn thành một dự án phức tạp và khó khăn như vậy. 100.000 m3 đất và bùn đã được khử độc. 

Bộ Quốc phòng Việt Nam đã phối hợp chặt chẽ với USAID để khắc phục nhiều trở ngại nhằm hoàn thành dự án, và trong khi làm những việc đó, họ đã giúp thúc đẩy quan hệ giữa hai nước chúng ta lên một tầm cao mới. Giống như các vấn đề MIA và UXO (bom mìn chưa nổ) trước đó, vấn đề chất độc da cam phát triển từ một chủ đề tức giận và oán hận lên một sự hợp tác và hiểu biết lẫn nhau. 

Hoạt động tẩy chất độc da cam ở sân bay Đà Nẵng. 

Trong 4 thập kỷ, sân bay Đà Nẵng là một mối nguy hiểm cho sức khỏe của hàng ngàn người dân sống gần đó. Nhưng hơn 1 năm trước, hội nghị thượng đỉnh APEC đã được tổ chức ở đó. Sau đó không lâu, một tàu sân bay Mỹ đã cập cảng Đà Nẵng và các thủy thủ đã thăm một trại trẻ mồ côi - những người có thể đã bị di truyền các khuyết tật từ cha mẹ hoặc ông bà bị nhiễm chất độc da cam. 


Không có gì trong những điều này sẽ xảy ra nếu như không có sự kiên trì và hợp tác của hai chính phủ chúng ta. 

Qua giai đoạn này, USAID cũng mở rộng các chương trình sức khỏe và tàn tật với 7 tỉnh của Việt Nam. Họ cung cấp y tế, phục hồi chức năng, cơ sở hạ tầng và trợ giúp xã hội cho nhiều người tàn tật Việt Nam ở những vùng bị nhiễm chất độc da cam nặng nề. 

Ngày 17/4, tôi sẽ đến Việt Nam lần thứ 3 cùng với 8 thượng nghị sỹ của cả hai đảng (Cộng hòa và Dân chủ). Lần này chúng tôi sẽ đến sân bay Biên Hòa gần thành phố Hồ Chí Minh, vốn là một căn cứ quân sự lớn nhất của Mỹ trong thời chiến tranh. 

Cùng với Đại sứ Mỹ và các quan chức Việt Nam, chúng tôi sẽ bắt đầu dự án khử độc tại Biên Hòa - nơi nhiễm độc dioxin lớn nhất còn tồn tại. Đây sẽ là một trong những dự án khử độc môi trường lớn nhất trên thế giới. 

Đồng thời, chúng tôi sẽ chứng kiến việc ký kết một thỏa thuận giữa Mỹ và Việt Nam về cam kết 5 năm để hỗ trợ các chương trình sức khỏe và tàn tật cho những người bị khuyết tật tại các tỉnh bị nhiễm chất độc da cam nặng. 

Lợi ích của sự hợp tác nhân đạo này đang được mở rộng: 

Nó giúp đoàn tụ hài cốt lính Mỹ với các thân nhân của họ; 

Nó cho phép nhiều người ở Việt Nam đã bị tàn tật có thể phục hồi khả năng di chuyển; 

Nó giúp các gia đình và cộng đồng Việt Nam chăm sóc cho người tàn tật; 

Chúng ta đang thoát khỏi dioxin và chúng ta đã bắt đầu giúp Việt Nam xác định hài cốt của những người Việt Nam mất tích. 

Một điều cũng quan trọng là sự hợp tác này đã khởi đầu của một quan hệ đối tác đang phát triển. Mặc dù hai chính phủ chưa đồng thuận trong những vấn đề quan trọng, chúng ta chia sẻ nhiều lợi ích: từ sự gia tăng trao đổi sinh viên đến mở rộng quan hệ thương mại và ứng phó biến đổi khí hậu. 

Quan hệ đối tác của chúng tôi với Bộ Quốc phòng và các hoạt động hỗ trợ và tham gia của Bộ Quốc phòng và Bộ Ngoại giao Mỹ trong những nỗ lực nhân đạo này, đã mở ra các cơ hội mới cho hợp tác trong những vấn đề an ninh khu vực của hôm nay và tương lai. 

Chúng ta không thể chạy trốn thực tế rằng cuộc chiến là một thảm họa cho những thế hệ người Việt và người Mỹ. Mỗi chúng ta đã sống qua giai đoạn đó đều có những ký ức, xúc cảm và quan điểm của mình. 

Đối với tôi, không thể tha thứ cho cuộc chiến điên rồ đó và sự hạ thấp những hủy diệt khủng khiếp và những đau khổ mà nó gây ra. Nhưng chúng ta hoàn toàn có thể tự hào về cách hai nước đã làm để vượt qua di sản thảm thương đó. Chúng ta còn một con đường dài và chúng ta còn phải đi tiếp.” 

Nguồn: https://vtdigger.org/2019/04/16/patrick-leahy-war-legacies-expanding-u-s-vietnam-partnership/